1 С озвав вместе двенадцать, Иисус дал им силу и власть одолевать всех демонов и излечивать болезни.
Đức Chúa Jêsus nhóm họp mười hai sứ đồ, ban quyền năng phép tắc để trị quỉ chữa bịnh.
2 З атем Он послал их возвещать Божье Царство и исцелять больных,
Rồi Ngài sai để rao giảng về nước Đức Chúa Trời cùng chữa lành kẻ có bịnh.
3 с казав им: – Ничего не берите с собой в дорогу: ни посоха, ни сумки, ни хлеба, ни денег, ни запасной одежды.
Ngài dạy rằng: Đi đường chớ đem gì theo hết, hoặc gậy, hoặc bao, hoặc bánh, hoặc tiền bạc; cũng đừng đem hai áo.
4 В какой бы дом вы ни вошли, оставайтесь там и оттуда отправляйтесь дальше.
Hễ các ngươi vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
5 А если где-то люди вас не примут, то, уходя из того города, отряхните пыль с ваших ног, это будет свидетельством против них.
Còn ai không tiếp rước các ngươi, hãy ra khỏi thành họ, và phủi bụi chơn mình để làm chứng nghịch cùng họ.
6 У ченики отправились в путь и, переходя из селения в селение, возвещали Радостную Весть и повсюду исцеляли больных. Смятение правителя Ирода (Мат. 14: 1-2; Мк. 6: 14-16)
Vậy, các sứ đồ ra đi, từ làng nầy tới làng kia, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành người có bịnh.
7 С лухи обо всем этом дошли и до правителя Ирода. Он был в недоумении, потому что одни говорили, что это Иоанн воскрес из мертвых,
Bấy giờ, Hê rốt là vua chư hầu, nghe nói về các việc xảy ra, thì không biết nghĩ làm sao; vì kẻ nầy nói rằng: Giăng đã từ kẻ chết sống lại;
8 д ругие – что явился Илия, третьи – что ожил один из древних пророков.
kẻ khác nói rằng: Ê-li đã hiện ra; và kẻ khác nữa thì rằng: Một trong các đấng tiên tri đời xưa đã sống lại.
9 И род говорил: – Иоанна я обезглавил, а Кто же тогда Этот Человек, о Котором мне такое рассказывают? И он искал возможность увидеть Иисуса. Иисус насыщает пять тысяч мужчин (Мат. 14: 13-21; Мк. 6: 32-44; Ин. 6: 1-13)
Song Hê-rốt thì nói: Ta đã truyền chém Giăng rồi: vậy người nầy là ai, mà ta nghe làm những việc dường ấy? Vua bèn tìm cách thấy Đức Chúa Jêsus.
10 А постолы, возвратившись, рассказали Иисусу обо всем, что они сделали. Потом Он взял их с Собой, и они пошли одни к городу, называемому Вифсаида.
Các sứ đồ trở về trình cùng Đức Chúa Jêsus mọi việc mình đã làm. Ngài bèn đem các sứ đồ đi tẻ ra với mình đến gần thành kia gọi là Bết-sai-đa.
11 О днако толпы народа, узнав об этом, пошли за Иисусом. Он радушно их принял и говорил им о Божьем Царстве, а также исцелял тех, кто в этом нуждался.
Nhưng dân chúng nghe vậy, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đãi dân chúng, giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời, và chữa cho những kẻ cần được lành bịnh.
12 Д ень уже клонился к вечеру, и двенадцать подошли к Иисусу и сказали: – Отпусти людей, чтобы они пошли в окрестные поселки и селения и нашли себе ночлег и пищу, ведь мы здесь в пустынном месте.
Khi gần tối, mười hai sứ đồ đến gần Ngài mà thưa rằng: Xin truyền cho dân chúng về, để họ đến các làng các ấy xung quanh mà trọ và kiếm chi ăn; vì chúng ta ở đây là nơi vắng vẻ.
13 И исус ответил: – Вы сами дайте им есть. Ученики удивились: – Да ведь у нас только пять хлебов и две рыбы. Разве что нам пойти и купить еды на всех этих людей?
Song Ngài phán rằng: Chính các ngươi hãy cho họ ăn. Các sứ đồ thưa rằng: Ví thử chính mình chúng tôi không đi mua đồ ăn cho hết thảy dân nầy, thì chỉ có năm cái bánh và hai con cá mà thôi.
14 А там одних только мужчин было около пяти тысяч. Но Иисус сказал ученикам: – Рассадите людей группами, человек по пятьдесят.
Vả, bấy giờ có độ năm ngàn người nam ở đó. Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Hãy biểu chúng ngồi từng hàng năm mươi người.
15 У ченики так и сделали. Когда все сели,
Môn đồ làm theo lời; chúng ngồi xuống hết thảy.
16 И исус взял пять хлебов и две рыбы и, подняв глаза к небу, благословил пищу. Затем Он стал разламывать хлеб и рыбу и давать их Своим ученикам, чтобы те раздавали народу.
Đoạn, Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, chúc tạ, rồi bẻ ra trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân.
17 В се ели и насытились, и собрали еще двенадцать корзин остатков. Петр признает Иисуса Христом (Мат. 16: 13-16; Мк. 8: 27-29)
Ai nấy ăn no rồi, người ta thâu được mười hai giỏ đầy những miếng thừa.
18 О днажды, когда Иисус молился в одиночестве и недалеко от Него были Его ученики, Он спросил их: – За кого принимает Меня народ?
Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, môn đồ nhóm lại xung quanh Ngài, Ngài hỏi rằng: Trong dân chúng, họ nói ta là ai?
19 О ни ответили: – За Иоанна Крестителя; другие же говорят, что Ты Илия, а третьи – что один из других древних пророков ожил.
Thưa rằng: Người nầy nói là Giăng Báp-tít, người kia nói là Ê-li; kẻ khác nói là một trong các đấng tiên tri đời xưa sống lại.
20 – А вы кем считаете Меня? – спросил их Иисус. – Божьим Христом, – ответил Петр. Иисус впервые говорит о Своей смерти и воскресении (Мат. 16: 21-23; Мк. 8: 31-33)
Ngài lại hỏi rằng: Còn về phần các ngươi thì nói ta là ai? Phi -e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.
21 Н о Иисус строго велел им никому не говорить об этом,
Đức Chúa Jêsus nghiêm cấm môn đồ nói sự ấy với ai,
22 с казав: – Сыну Человеческому должно много пострадать и быть отвергнутым старейшинами, первосвященниками и учителями Закона. Он должен быть убит, но на третий день воскреснет. Что значит быть последователем Иисуса? (Мат. 16: 24-28; Мк. 8: 34 – 9: 1)
và phán thêm rằng: Con người phải chịu nhiều điều khốn khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo bỏ ra, phải bị giết, ngày thứ ba phải sống lại.
23 П отом Иисус сказал им: – Если кто желает быть Моим последователем, пусть отречется от самого себя и, изо дня в день беря свой крест, следует за Мной.
Đoạn, Ngài phải cùng mọi người rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.
24 П отому что тот, кто хочет сберечь свою жизнь, потеряет ее, а кто потеряет свою жизнь ради Меня, тот спасет ее.
Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ cứu.
25 В едь что пользы человеку, если он приобретет весь мир, но при этом погубит самого себя или повредит себе?
Nếu ai được cả thiên hạ, mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?
26 К то постыдится Меня и Моих слов, того постыдится и Сын Человеческий, когда придет в Своей славе и в славе Отца и святых ангелов.
Vì nếu ai hổ thẹn về ta và lời ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về họ, khi Ngài ngự trong sự vinh hiển của mình, của Cha, và của thiên sứ thánh mà đến.
27 Г оворю вам истину, некоторые из вас, стоящих здесь, не умрут, пока не увидят Божьего Царства. Преображение Иисуса (Мат. 17: 1-13; Мк. 9: 2-13)
Quả thật, ta nói cùng các ngươi, một vài người trong các ngươi đương đứng đây sẽ không chết trước khi chưa thấy nước Đức Chúa Trời.
28 П римерно восемь дней спустя после этих слов, Иисус, взяв с Собой Петра, Иоанна и Иакова, поднялся на гору помолиться.
Độ tám ngày sau khi phán các lời đó, Đức Chúa Jêsus đem Phi -e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với mình lên trên núi để cầu nguyện.
29 В о время молитвы Его облик вдруг изменился, а одежда стала ослепительно белой.
Đương khi cầu nguyện, diện mạo Ngài khác thường, áo Ngài trở nên sắc trắng chói lòa.
30 И вот появились два человека, которые стали разговаривать с Иисусом, – это были Моисей и Илия.
Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li,
31 Я вившись в славе, они говорили о Его исходе, который Он должен будет совершить в Иерусалиме.
hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
32 А Петра и тех, кто был вместе с ним, одолел сон, но когда они очнулись, то увидели славу Иисуса и двух мужчин, стоявших рядом с Ним.
Phi -e-rơ cùng đồng bạn mình buồn ngủ lắm, nhưng vừa tỉnh thức ra, thấy vinh hiển của Đức Chúa Jêsus và hai đấng ấy đứng gần Ngài.
33 К огда мужчины уже уходили, Петр сказал Иисусу: – Наставник, нам здесь так хорошо! Давай мы сделаем три шалаша, один Тебе, один Моисею и один Илии. Он и сам не знал, что он говорит.
Lúc hai đấng ấy lìa khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi -e-rơ thưa Ngài rằng: Thưa thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, hãy đóng ba trại, một cái cho thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li. Vì Phi -e-rơ không biết mình nói chi.
34 К огда он еще говорил, показалось облако и накрыло их. Оказавшись в облаке, они очень испугались.
Khi người còn đương nói, có một đám mây kéo đến, bao phủ lấy; và khi vào trong đám mây, các môn đồ đều sợ hãi.
35 А из облака прозвучал голос: – Это Мой Сын, Мой избранный. Его слушайте!
Bấy giờ, nghe có tiếng từ trong đám mây phán ra rằng: Nầy là Con ta, Người được lựa chọn của ta, hãy nghe Người.
36 К огда голос умолк, они увидели Иисуса уже одного. Они молчали об этом и в то время никому не рассказывали о том, что видели. Иисус исцеляет мальчика, одержимого нечистым духом (Мат. 17: 14-19; Мк. 9: 14-29)
Khi tiếng ấy phát ra, thì Đức Chúa Jêsus ở một mình. Các môn đồ nín lặng, không nói cùng ai về sự mình đã thấy.
37 Н а следующий день, когда они спустились с горы, Иисуса встретила большая толпа.
Bữa sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến đón rước Ngài.
38 И один человек из толпы закричал: – Учитель, умоляю Тебя, посмотри моего сына! Он у меня один.
Một người trong đám đông kêu lên rằng: Lạy thầy, xin thầy đoái đến con trai tôi, vì là con một tôi.
39 И ногда его схватывает дух, и тогда мальчик внезапно начинает кричать, его сводит судорогой, так что у него изо рта идет пена. Дух терзает его до полного изнеможения и лишь тогда нехотя отступает.
Một quỉ ám nó, thình lình kêu la; quỉ vật vã nó dữ tợn, làm cho sôi bọt miếng, mình mẩy nát hết, rồi mới ra khỏi.
40 Я просил Твоих учеников изгнать его, но они не смогли.
Tôi đã xin môn đồ thầy đuổi quỉ đó, nhưng họ đuổi không được.
41 – О неверующее и испорченное поколение, – сказал Иисус, – сколько Мне еще быть с вами и терпеть вас? Приведи сына сюда.
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và bội nghịch kia, ta ở với các ngươi và nhịn các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con của ngươi lại đây.
42 К огда мальчик еще шел, дух бросил его на землю в припадке. Но Иисус приказал нечистому духу, исцелил мальчика, а затем отдал его отцу.
Đứa con trai vừa lại gần, quỉ xô nó nhào xuống đất, và vật vã dữ tợn. Song Đức Chúa Jêsus quở nặng tà ma, chữa lành con trẻ ấy, và giao lại cho cha nó.
43 В се были поражены величием Бога. Иисус снова говорит о Своей смерти (Мат. 17: 22-23; Мк. 9: 30-32) В то время, как все удивлялись тому, что совершил Иисус, Он сказал Своим ученикам:
Ai nấy đều lấy làm lạ về quyền phép cao trọng của Đức Chúa Trời. Khi mọi người đang khen lạ các việc Đức Chúa Jêsus làm, Ngài phán cùng môn đồ rằng:
44 – Слушайте внимательно, что Я вам сейчас скажу: Сын Человеческий будет предан в руки людей.
Về phần các ngươi, hãy nghe kỹ điều ta sẽ nói cùng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.
45 Н о они не поняли, что Он имел в виду, от них это было сокрыто, так что они не поняли смысла сказанного, а спросить, что означают Его слова, боялись. Ученики спорят о том, кто из них самый великий (Мат. 18: 1-5; Мк. 9: 33-37)
Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, vì đã che khuất cho mình để chẳng rõ nghĩa làm sao; và sợ không dám hỏi Ngài về lời ấy.
46 С реди учеников как-то начался спор о том, кто из них важнее.
Các môn đồ biện luận cùng nhau cho biết ai là lớn hơn hết trong hàng mình.
47 И исус, зная их мысли, взял маленького ребенка и поставил его рядом с Собой.
Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng môn đồ, thì lấy một đứa con trẻ để gần mình,
48 – Кто ради Меня принимает такого ребенка, – сказал Иисус, – тот принимает и Меня, а кто принимает Меня, тот принимает и Пославшего Меня. Кто среди вас меньше всех, тот и велик. Кто не против вас, тот за вас (Мк. 9: 38-40)
mà phán rằng: Hễ ai vì danh ta mà tiếp con trẻ nầy, tức là tiếp ta; còn ai tiếp ta, tức là tiếp Đấng đã sai ta. Vì kẻ nào hèn mọn hơn hết trong vòng các ngươi, ấy chính người đó là kẻ cao trọng.
49 – Наставник, – сказал Иоанн, – мы видели человека, который Твоим Именем изгонял демонов, и мы запрещали ему, потому что он не следует за Тобой вместе с нами.
Giăng cất tiếng nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi từng thấy có kẻ nhơn danh thầy mà trừ quỉ; chúng tôi đã cấm họ, vì không cùng chúng tôi theo thầy.
50 – Не запрещайте, – сказал Иисус. – Кто не против вас, тот за вас. Отвержение Иисуса Христа самарянами
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đừng cấm họ, vì ai không nghịch cùng các ngươi, là thuận với các ngươi.
51 К огда Иисусу подошло время быть взятым на небо, Он направился в Иерусалим.
Khi gần đến kỳ Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem.
52 В перед Себя Он послал вестников, и те пошли в одно из самарянских селений, чтобы приготовить все к Его приходу.
Ngài sai kẻ đem tin đi trước mình. Họ ra đi, vào một làng của người Sa-ma-ri, để sửa soạn nhà trọ cho Ngài;
53 Н о жители селения не приняли Его, потому что Он шел в Иерусалим.
song người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi thẳng lên thành Giê-ru-sa-lem.
54 У видев это, Его ученики Иаков и Иоанн сказали: – Господи, хочешь, мы прикажем огню сойти с неба и всех их истребить, как и Илия сделал?
Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?
55 Н о Иисус, обернувшись, запретил им и сказал: – Вы не знаете, какого вы духа,
Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại quở hai người, mà rằng: Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình.
56 в едь Сын Человеческий пришел не губить человеческие души, а спасать. И они пошли в другое селение. Иисус говорит о цене следования за Ним (Мат. 8: 19-22)
Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác.
57 К огда они шли по дороге, один человек сказал Иисусу: – Я пойду за Тобой, куда бы Ты ни пошел.
Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó.
58 И исус ответил: – У лисиц есть норы, и у птиц небесных – гнезда, а Сыну Человеческому негде и голову приклонить.
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.
59 Д ругому человеку Иисус сказал: – Следуй за Мной. Но тот ответил: – Господи, разреши мне прежде пойти и похоронить отца моего.
Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã.
60 – Пусть мертвые хоронят своих мертвецов, а ты иди и провозглашай Божье Царство, – сказал ему Иисус.
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời.
61 Е ще один человек сказал Ему: – Я пойду за Тобой, Господи, но позволь мне прежде пойти и попрощаться с моей семьей.
Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi.
62 И исус ответил: – Ни один человек, положивший руку на плуг и оглядывающийся назад, не пригоден для Божьего Царства.
Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời.